Thứ Năm, 15 tháng 11, 2012

Bột nghệ vàng

Đặt mua BỘT NGHỆ VÀNG  tại cửa hàng UDK, 127 Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội. ĐT 091 33 11 631,  
DT: 0948820860, email: huyentt.lk@gmail.com
Giá: 120,000 đ/kg


Khoa học và Đời sống - Trong cuộc sống, nhân dân ta thường dùng nghệ vàng để bôi lên da non cho mau liền da không bị nhiễm khuẩn, nhiều người dùng bột nghệ vàng mật o­ng để chữa bệnh viêm loét dạ dày - tá tràng, các bệnh về viêm túi mật, sỏi mật. Tuy nhiên, nhiều người chưa có dịp để hiểu sâu hơn ở góc độ khoa học về tác dụng của nghệ vàng.




Một hôm, tôi đến chơi nhà ông bạn trước kia là nhà giáo mà gia đình có nghề lang gia truyền, đã bỏ nghề dạy học đi học Đông y, nay hành nghề Đông y cũng có tiếng, tham gia thường trực trong Hội đồng Đông y Việt Nam, tôi chứng kiến cả nhà thường xuyên nấu cơm bằng nước nghệ vàng, hấp nghệ vàng để ăn như ăn khoai để nhấn mạnh và chứng tỏ rằng “nghệ vàng” là một “thần dược” trong Đông y và khuyến khích tôi nên thường xuyên dùng nghệ vàng. Từ đó tôi bắt đầu quan tâm tìm hiểu sâu hơn về nghệ vàng, sử dụng nghệ vàng thường xuyên hơn.

Qua tìm hiểu, tôi thấy cần tóm tắt phổ biến rộng rãi cho nhiều người cùng quan tâm: Tiến sĩ Phạm Đình Tỵ cùng các đồng nghiệp ở Viện Hóa học và Hợp chất tự nhiên thuộc Trung tâm KHCN&CNQG đã chiết tách thành công từ nghệ vàng được 2 chất. Đó là TN-999 và TN-999-AC. Nhiều bệnh nhân bị viêm loét dạ dày, hành tá tràng, đại tràng, thiểu năng gan, mật, thấp khớp, huyết áp... đã dùng thử TN-999 và thấy kết quả khả quan. Chế phẩm TN-999-AC có đặc tính chống ung thư não, dạ dày, phổi, gan, da... Đến nay, các nhà khoa học chưa ghi nhận bất kỳ một trường hợp nào có biểu hiện tác dụng phụ như nhiều chất chống ung thư khác, thậm chí tinh nghệ vàng còn giúp cho người bệnh nâng cao thể lực, hạn chế chán ăn, không tích độc ở các cơ quan nội tạng và bệnh nhân không bị rụng tóc hay kiệt sức. Tinh nghệ đã được Viện kiểm nghiệm Bộ Y tế công nhận “tương đương tiêu chuẩn quốc tế JECFA”. Đối với người bệnh thì đây là “thần dược”. Thành phần chính của tinh nghệ là hợp chất curcumin. Chất này có hoạt tính sinh học khá độc đáo như giải độc gan, chống xơ gan cổ chướng, bảo vệ tế bào hồng cầu, làm thông mật, có tác dụng phá cholesterol trong máu, ngăn sự phát triển vi khuẩn lao, chống viêm loét dạ dày, hành tá tràng, đường tiết niệu. Curcumin còn là chất chống ôxy hóa mạnh, có khả năng tiêu diệt các gốc tự do và các loại men hại gây ung thư có trong thức ăn, nước uống hằng ngày. Chúng có thể tách tế bào ung thư ra khỏi các phân tử AND, làm vô hiệu hóa và ngăn chặn sự hình thành mới của tế bào bệnh mà các tế bào thường không bị ảnh hưởng. Những nghiên cứu gần đây còn cho thấy nó còn có tác dụng kháng HIV.

Trong thí nghiệm của mình, Bharat Aggarwal và các đồng nghiệp đã làm thí nghiệm trên chuột có đối chứng về ung thư vú thì thấy curcumin kiềm chế sự phát triển của một protein và loại protein có vai trò then chốt trong việc hình thành và lan tỏa u di căn. Các nhà khoa học cũng chứng minh khả năng chữa ung thư da của curcumin. Trong việc phòng bệnh Alzheimer, chất curcumin cũng tỏ ra có hiệu quả.

Gia đình tôi bước đầu nghe lời khuyên của thầy giáo, lang y kết hợp sự tìm hiểu sâu hơn về nghệ vàng, quan tâm thường xuyên sử dụng nghệ vàng chủ yếu để phòng bệnh mà chẳng có hại gì vì không có tác dụng phụ. Để tiết kiệm tiền không phải mua tinh bột nghệ vì mục đích phòng bệnh là chính, chúng tôi mua củ nghệ vàng về thái, phơi khô rồi xay (dùng máy xay sinh tố, bộ phận chuyên xay bột, xay cà phê...) độ 1 phút là thành bột dùng dần, dùng không hạn chế như cho vào cháo, cho vào thức ăn, ăn cùng mật o­ng. Mới đầu dùng ít để làm quen dần với mùi hăng khó ăn, sau tăng dần cho phù hợp khẩu vị. Bây giờ chúng tôi còn dùng nghệ tươi thái nhỏ cho vào nấu cơm, thường xuyên ăn cơm nghệ vàng để phòng bệnh.

Tóm lại, nghệ vàng là vị thuốc quý, có tác dụng phòng nhiều bệnh, chữa được nhiều bệnh và một số bệnh ung thư. Mọi người nên thường xuyên ăn nghệ vàng, nhất là người trung niên, người cao tuổi lại càng cần tăng cường hơn để phòng bệnh, chữa bệnh mà chưa thấy các tác dụng phụ có hại gì; nữ giới nên dùng để phòng ngừa ung thư vú, khi bị ung thư rồi cũng nên dùng để phòng ngừa di căn.

Người sưu tầm đã thường xuyên áp dụng thấy tốt, thực tế đã bị ung thư da phải cắt bỏ tại Bệnh viện K Hà Nội, không thấy tái phát đã 2 năm nay, chẳng có hại gì, xin thành tâm phổ biến để cùng ứng dụng.

Cam Thảo

Đặt mua CAM THẢO  tại cửa hàng UDK, 127 Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội. 
ĐT 0948820860, email: huyentt.lk@gmail.com
Giá: 160,000đ/kg



Còn có tên là bắc cam thảo, sinh cam thảo, quốc lão.
Tên khoa học Clycyrrhiza uralensis fish và Glycyrrhixa glabra L.
Thuộc họ cánh bướm Fabaceae
Cam thảo là rễ và thân rễ phơi hay sấy khô của cây cam thảo nguồn gốc vùng Uran hay cây cam thảo châu âu
Tên cam thảo vì cam là ngọt, thảo là cỏ: cỏ có vị ngọt.
A. Mô tả cây
Cam thảo là một cây sống lâu năm thân có thể cao tới 1m hay 1.5m. Toàn thân cây có lông rât nhỏ. Lá kép lông chim lẻ, lá chét 9-17, hình trứng, đầ nhọn, mép nguyên, dài 2-5.5 cm. Vào mùa hạ và mùa thu nở hoa màu tím nhạt, hình cánh bướm dài 14-22 mm. Quả giáp cong hình lưỡi liềm dài 3-4 cm, rộng 6-8 cm, màu nâu đen, mặt quả có nhiều lông. Trong quả có hai đến 8 hạt nhỏ dẹt, đường kính 1.5-2 mm màu xám nâu, hoặc xanh đen nhạt, mặt bóng.
B. Tác dụng dược lý
1. Tác dụng giải độc của cam thảo: có tác dụng giải độc rất mạnh đối với độc tố của bạch cầu, chất độc của cá lợn, của rắn, hiện tượng choáng. Cam thảo có khả năng giải chất độc của độc tố uốn ván.
2. Tác dụng như coctison
Cam thảo có tác dụng gần như coctison tăng sự kích tích nước và muối NaCl trong cơ thể gây ra thủy thũng đồng thời trị các vết loét trong bộ máy tiêu hóa.
3. Tác dụng của Cam thảo: Nhiều người dùng cam thảo như một thức uống thay trà mà vẫn chưa biết đến những lợi ích của cam thảo với sức khoẻ.
3.1. Điều trị loét dạ dày
Cam thảo kích thích chức năng bảo vệ của cơ thể giúp ngừa các dạng viêm loét rất hiệu quả. Theo các nghiên cứu thì dùng cam thảo điều trị thành công bệnh viêm loét dạ dày lên đến 91%.
Thời gian điều trị cần thiết là từ 8 - 16 tuần phụ thuộc vào tình trạng hồi phục nhanh hay chậm của bệnh nhân. Nên dùng cam thảo trước bữa ăn từ 20 - 30 phút để phát huy tối đa hiệu quả điều trị loét, cam thảo đóng vai trò như một lớp áo lót bên trong giúp bảo vệ dạ dày khỏi viêm loét.
3.2. Điều chỉnh cân nặng
Cam thảo có tác dụng điều chỉnh cân nặng vì nó giúp duy trì mức độ acid trong dạ dày
3.3. Điều trị các bệnh đường hô hấp
Trong cam thảo có chất chống dị ứng nên điều trị các rối loạn về đường hô hấp rất hiệu quả.
3.4. Chống viêm
Cam thảo hoạt động với tác dụng chữa viêm và chống dị ứng lại không gây tác dụng phụ có hại cho cơ thể.
3.5. Chống sốt
Cam thảo có vai trò như một loại thuốc bổ giúp ngăn ngừa các bệnh sốt.
3.6. Hiệu quả trong điều trị các bệnh
- Herpes
- Bệnh gan mãn tính, viêm gan và xơ gan
- Bệnh thấp khớp
- Các triệu chứng của thời kỳ tiền kinh nguyệt và mãn kinh
- Giảm đường huyết
- Nhuận tràng và lợi tiểu
- Chống các cơn co thắt.
Lưu ý: Những người cao huyết áp và bị các bệnh về gan không nên dùng cam thảo vì dùng cảm thảo nhiều gây tích nước và tăng nguy cơ mắc bệnh cao huyết áp.
Liều lượng nên dùng là 1-2gr rễ cam thảo và 0,25-0,5 gr chiết xuất cam thảo mỗi ngày.

Diệp Hạ Châu

Đặt mua DIỆP HẠ CHÂU  tại cửa hàng UDK, 127 Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội. 
ĐT 0948820860, email: huyentt.lk@gmail.com
Skype, yahoo: tthuyen712
Giá: 90,000đ/kg

Diệp hạ châu trị bệnh gan


Viêm gan siêu vi B là một căn bệnh nguy hiểm đang ảnh hưởng đến khoảng 400 triệu người trên thế giới, quá trình điều trị, chữa bệnh bằng tây y rất tốn kém kể cả những phản ứng phụ không thể tránh được. Những năm gần đây, ở Việt Nam rộ lên phong trào sử dụng diệp hạ châu để chữa bệnh gan… Vậy công dụng, hiệu quả như thế nào?
Cây thuốc quý
Diệp hạ châu (DHC) là tên thường gọi của 2 cây Phyllanthus amarus và Phyllanthusnituri thuộc họ thầu dầu (Euphorbiaceae), ở Việt Nam thường được gọi là cây hay cam kiềm, cỏ trân châu, rút đất, diệp hòa thái… Trong dân gian, chúng thường gọi là cây chó đẻ răng cưa vì người ta thường thấy sau khi chó mẹ sinh con, chúng thường tìm đến những cây thuốc này để ăn... DHC cao từ 30 - 60 cm, thân thẳng, lá mọc so le, có nhiều quả hình tròn như hạt ngọc; là cây mọc hoang tại Việt Nam và các nước nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, có vị đắng, hơi ngọt, tính mát, có tác dụng giải độc, mát gan, giúp sáng mắt, trị phù thũng, ứ nước, ăn uống không tiêu, bụng đầy trướng …
Tán sỏi
DHC là cây thuốc phổ biến được sử dụng từ lâu đời ở Nam Mỹ chủ yếu trị các bệnh sốt rét, phù thũng, cảm cúm, lở loét… Đặc biệt, các vị pháp sư từ xa xưa đã phát hiện tác dụng đặc biệt của DHC là làm tiêu sỏi trong các chứng bệnh sỏi mật, sỏi thận. Họ đặt tên cho DHC là cây tán sỏi. Sau này khoa học đã chứng minh những hoạt chất của DHC có tác dụng gia tăng lượng nước tiểu, ngăn cản sự tạo thành những tinh thể calcium oxalate cũng như giảm kích thước những viên sỏi đã hình thành, giúp tăng tiết mật và dãn cơ.
Giải độc và chữa viêm gan
Viêm gan siêu vi B là một căn bệnh nguy hiểm đã và đang ảnh hưởng đến gần 400 triệu người trên thế giới mà việc chữa chạy bằng tây y rất tốn kém và kèm theo nhiều tác dụng phụ. Việc sử dụng cây cỏ từ thiên nhiên là một giải pháp rất đáng lưu ý, rẻ và cho hiệu quả tốt.
DHC được dùng làm thuốc từ trên 2.000 năm nay. Nhưng giải độc và điều trị viêm gan là một trong những công dụng thu hút được nhiều sự quan tâm nhất ở DHC chỉ mới bắt đầu từ những năm 1980 trở lại đây. Những thử nghiệm lâm sàng trên trẻ em viêm gan truyền nhiễm của Ấn Độ đã cho kết quả hứa hẹn sau 30 ngày uống DHC (900 mg/ngày), 50% yếu tố lây truyền trong máu của virus viêm gan B (sinh kháng thể của bề mặt viêm gan B) đã mất đi. Nghiên cứu của các nước Nhật Bản, Ấn Độ, Trung Quốc, Việt Nam…, cho thấy tác dụng điều trị bệnh gan, viêm gan siêu vi mãn là do Phyllanthin, Hypophyllanthin và Tricacontanat giúp phục hồi chức năng gan và ức chế sao chép siêu vi B.
Cây diệp hạ châu, còn gọi là cây chó đẻ răng cưa. 
Hiện nay, trên thị trường có nhiều sản phẩm DHC dưới dạng thuốc viên, thuốc bột hoặc được sản xuất dưới hình thức trà uống tiện dụng. DHC có 2 loại: đắng và ngọt, loại đắng có chứa nhiều chất chống ô xy hóa có tác dụng kích thích tiêu hóa, tăng tiết mật, giải độc gan, điều trị viêm gan siêu vi B cao hơn loại ngọt. Trong thực tế, DHC sử dụng với một số thảo dược khác làm tăng tác dụng chữa bệnh. Tuy nhiên, sử dụng riêng DHC cũng chữa khỏi viêm gan với liều dùng từ 900 - 2.700 mg (dạng bột) trong 3 tháng liên tục hoặc dùng 10 - 20 g loại đã sấy khô, chế biến thành trà pha với 1.000 ml nước nấu sôi, dùng trong ngày.
Muốn việc điều trị bệnh gan bằng DHC đạt hiệu quả cao, bản thân người mắc bệnh gan phải bỏ hẳn rượu, bia; thực hiện việc phối hợp của chế độ ăn ít mỡ, nhiều rau củ quả, trái cây và năng vận động, tập luyện thể thao, đi bộ…

TS Nguyễn Phương Dung (Trường ĐH Y Dược TPHCM)

Cỏ ngọt

Đặt mua CỎ NGỌT  tại cửa hàng UDK, 127 Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội. 
ĐT 0948820860, email: huyentt.lk@gmail.com
Skype, yahoo: tthuyen712
Giá: 75,000đ/kg 

32432.jpeg

Trong thiên nhiên có nhiều loại cây cho ta dạng đường năng lượng thấp, có độ ngọt cao gấp hàng trăm lần đường saccaroza (loại đường mía có nhiều ở thị trường). Nhưng vì có những khó khăn về thu hái, chế biến hay độc tố trong các sản phẩm từ những loại cây này nên việc sử dụng chúng như là một chất thay thế đường còn bị hạn chế.

Cây cỏ ngọt (còn gọi là cỏ mật, cỏ đường, cúc ngọt, trạch lan) là một trong nhóm cây này được quan tâm phát triển.
Đường từ cây cỏ ngọt
Từ năm 1908 cỏ ngọt đã được biết đến. Hai nhà khoa học Reseback (1908) và Dieterich (1909) đã chiết xuất được glucozit từ lá cỏ ngọt. Đến năm 1931 Bridel và Lavieille mới xác định được glucozit đó chính là Steviozit, chất ngọt cơ bản tạo nên độ ngọt ở loại cây này. Chất này sau khi thủy phân sẽ cho 3 phân tử steviol và isosteviol. Chất steviol ngọt gấp 300 lần đường saccaroza, ít năng lượng, không lên men, không bị phân hủy mà hương vị thơm ngon, có thể dùng để thay thế đường trong chế độ ăn kiêng.
Đặc tính quan trọng của các glucozit này là có thể làm ngọt các loại thức ăn và đồ uống mà không gây độc hại cho người, không đòi hỏi kỹ thuật sản xuất phức tạp, năng suất cao, công nghệ thu hái chế biến đơn giản. Cần lưu ý khối lượng thân, lá và chất lượng cỏ ngọt đạt cao nhất ở thời kỳ trước khi nở hoa, tức là nên thu hoạch ở giai đoạn hình thành nụ, chú ý không để cây ra hoa mới thu hái.
Cỏ ngọt có nguồn gốc tự nhiên ở vùng Amambay và Iquacu thuộc biên giới Brazil và Paraguay, ngày nay nhiều nước trên thế giới đã và đang phát triển sử dụng cây cỏ ngọt trong đời sống hàng ngày. Ngay từ những năm đầu của thế kỷ 20, người dân Paraguay đã biết sử dụng cỏ ngọt như một loại nước giải khát; đến những năm 70 cỏ ngọt đã bắt đầu được sử dụng rộng rãi ở Nhật Bản, Trung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc và nhiều nước ở Đông Nam Á.
Ví dụ: Năm 1987 sản xuất và sử dụng lá cỏ ngọt ở Nhật Bản là 200 tấn, ở Đài Loan 200 tấn và Trung Quốc là 1.300 tấn. Ở Việt Nam từ tháng 8 năm 1988 cây cỏ ngọt đã được nhập và trồng ở nhiều vùng như Hà Giang, Cao Bằng, Hà Tây, Lâm Đồng (Đà Lạt), Đắc Lắc v.v...
Các chất ngọt chiết xuất từ lá cỏ ngọt khô được Công ty RSIT ở Canada gọi là “chất ngọt hoàng gia” bởi giá trị tuyệt vời của nó. Đây cũng là một công ty có bản quyền về chế tạo “chất ngọt hoàng gia” mà không gây ô nhiễm môi trường, không sử dụng hóa chất, sử dụng chất trao đổi ion để phân lập, chiết xuất và tinh chế các thành phần glucozit tự nhiên của (steviozit).
Tác dụng của cây cỏ ngọt
Trong y học nó được sử dụng như một loại trà dành cho những người bị bệnh tiểu đường, béo phì hoặc cao huyết áp. Thí nghiệm khảo sát được tiến hành trên 40 bệnh nhân cao huyết áp độ tuổi 50 uống chè cỏ ngọt trong một tháng (số liệu của Viện dinh dưỡng quốc gia) thì kết quả là với người cao huyết áp chè cỏ ngọt có tác dụng lợi tiểu, người bệnh thấy dễ chịu, ít đau đầu, huyết áp tương đối ổn định, không thấy độc chất trong lá cỏ ngọt. Ngày nay, người ta thường dùng kết hợp với các loại thảo mộc khác trong các thang thuốc y học dân tộc.
Trong công nghiệp thực phẩm nó được dùng tương đối rộng rãi ở Nhật Bản như để pha chế làm tăng độ ngọt của các loại thực phẩm khác nhau, được chế thành các viên đường để làm giảm độ nóng khi dùng đường saccaroza. Ngoài ra, người ta còn dùng để chế rượu màu, nước hoa quả, các loại bánh kẹo, món tráng miệng đông lạnh, ướp các loại hải sản sấy khô, chế biến dấm.
Cỏ ngọt còn được dùng trong công nghệ chế biến mỹ phẩm như các loại sữa làm mượt tóc, kem làm mềm da, vừa có tác dụng nuôi dưỡng tất cả các mô và giúp cơ thể tái tạo làn da mới trên toàn bộ bề mặt da, vừa chống nhiễm khuẩn lại trừ được nấm.
Các thành phần có nguyên liệu từ cỏ ngọt:
Nguyên liệu Thành phẩm
Lá khô Trà Actiso - cỏ ngọt
Xirô chè Chè nhúng sotevin
Bột Trà sâm quy - cỏ ngọt
Tinh thể Trà nhân trần, cỏ ngọt
Trà đen, cỏ ngọt
Nước ngọt
Thuốc Bắc (hay cam thảo)
Một số sản phẩm sản xuất từ cỏ ngọt được bán ở Nhật Bản và các nước khác.
- Đường ngọt tự nhiên (năng lượng thấp) là những gói nhỏ từ 0,45g đến 2g dùng cho người bệnh tiểu đường.
- Nước cà chua: Trong chai 500ml được chế biến từ cà chua, xi rô của đường tự nhiên, muối ăn, hành củ, có vị cay, dùng để làm gia vị.
- Kẹo viên: 100g/gói. Đường để làm kẹo được tổng hợp từ chất ngọt tự nhiên, không gây sâu răng, rất tốt cho trẻ em. 

Chè dây

Đặt mua CHÈ DÂY  tại cửa hàng UDK, 127 Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội. 
ĐT 0948820860, email: huyentt.lk@gmail.com
Skype, yahoo: tthuyen712
Giá: 75,000đ/kg  




Chè dây còn gọi là thau rả (tiếng Nùng), khau rả (tiếng Tày), hồng huyết long, điền bổ trà, ngưu khiên tỵ..., có tên khoa học là Ampelopsis cantoniensis (Hook.et arn.) Planch, thuộc họ nho (Vintaceae). Đây là một loại cây leo, mọc hoang ở trong rừng Dân gian thường hái toàn thân cả lá vào lúc cây chưa có hoa quả, đem rửa sạch, thái nhỏ, phơi khô, sao qua rồi hãm với nước sôi như pha trà uống thay nước hàng ngày. Nước chè dây có mùi thơm, vị ngọt, uống khá dễ chịu. 


Theo y học cổ truyền, chè dây vị ngọt tính mát, có công dụng thanh thử nhiệt, tiêu việm, giải độc, thường được dùng để chữa các chứng bệnh như vị thống, mụn nhọt, nhũ ung, tê thấp... Nghiên cứu hiện đại của các nhà khoa học Trung Quốc trên lâm sàng cho thấy, chè dây có khả năng trị liệu các bệnh như cốt tuỷ viêm, viêm hạch cấp tính, viêm tuyến vú cấp tính, nhiễm khuẩn ngoại khoa, viêm họng và Amiđan cấp tính, viêm mủ tai giữa, viêm khí phế quản cấp tính, viêm thận cấp tính, thấp khớp giai đoạn tiến triển, viêm cơ, viêm răng lợi, mụn nhọt, đinh độc, eczema, nhiễm trùng vết thương. 


Trên cơ sở thừa kế kinh nghiệm của đồng bào dân tộc, các nhà khoa học nước ta đã đi sâu khảo sát, nghiên cứu đầy đủ về chè dây trong điều kiện bệnh lý viêm loét dạ dày-hành tá tràng, với sản phẩm viên nang Ampelop. Loại thuốc này về thành phần chủ yếu là cao chè dây (80% flavonoid) có tác dụng tiệt trừ xoắn khuẩn Helicobacter pylori (tác nhân chính gây bệnh viêm loét dạ dày-hành tá tràng), giảm tiết axit dịch vị, chống viêm giảm đau và làm liền sẹo nhanh ổ loét. Ngoài ra Ampelop còn có tác dụng an thần. 


Kết quả nghiên cứu về tính an toàn cho thấy, thành phần hóa học của chè dây không có những nhóm chất thường có độc như: alcaloid, saponin..., cao chè dây không gây ngộ độc cấp tính, không ảnh hưởng tới các chỉ tiêu hóa sinh, huyết học, cổ truyền và sinh sản khi dùng thuốc trong thời gian dài. Các nghiên cứu trên lâm sàng cũng đều cho thấy chè dây không thấy có các tác dụng phụ như đầy bụng, nôn mửa hoặc khó chịu, mệt mỏi, nhức đầu hoặc các biểu hiện dị ứng.

Chè Đắng

Đặt mua CHÈ ĐẮNG  tại cửa hàng UDK, 127 Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội. 
ĐT 0948820860, email: huyentt.lk@gmail.com
Skype, yahoo: tthuyen712
Giá: 200,000đ/kg  

Tên khác: Khổ đinh trà, Cây bùi, chè Khôm, chè Vua.

Tên khoa học: Ilex kaushue S. Y. Hu = Ilex kudingcha C. J. Tseng., họ Nhựa ruồi (Aquifoliaceae).

Mô tả: Cây trưởng thành có thể cao tới 30m, đường kính có cây tới trên 1m. Cành và cuống hoa có lông tơ thưa, phiến lá dài 13-16cm, rộng 5-6cm, gân bên rõ ở cả hai mặt. Cụm hoa mọc tụm là dạng chùm giả với trục cụm hoa dài gần 1cm; đài của hoa đực hình đĩa; nhị ngắn hơn cánh hoa.

Bộ phận dùng: Lá, búp.

Phân bố: Chè đắng phân bố ở Lào Cai (núi Hàm Rồng, thị xã Sa Pa ), Cao Bằng (Nguyên Bình: Mai Long; Hạ Lang: An Lạc, Đồng Loan, Đức Quang; Thái Đức: Quảng Hoà, Mỹ Hưng, Tiên Thành; Thạch An: Đức Xuân, Nà Tục, Tục Ngã, Pắc Lùng) Hào Bình (Yên Thuỷ, Phố Sấu), Ninh Bình (Cúc Phương, Đồng Cơn). Còn ở Trung Quốc (Hồ Bắc, Hồ Nam, Vân Nam, Quảng Tây, Quảng Nam tới đảo Hải Nam ).

Thành phần hoá học: Flavonoid, saponin...

Công năng: Tán phong nhiệt, giải độc, an thần, tăng cường tiêu hóa.

Công dụng: Kích thích tiêu hoá, lợi tiểu, ổn định thần kinh, tăng trí nhớ, dùng lâu tăng sức khoẻ.

Cách dùng, liều lượng: Ngày 10-20g, hãm uống như chè.

Chú ý: Gần đây Chè đắng đang được nghiên cứu đưa vào trồng trọt, sản xuất, chế biến với số lượng lớn phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Quả dứa dại

Đặt mua QUẢ DỨA DẠI  tại cửa hàng UDK, 127 Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội. 
ĐT 0948820860, email: huyentt.lk@gmail.com
Skype, yahoo: tthuyen712
Giá: 75,000đ/kg   

Dứa dại (còn gọi là dứa gai, dứa gỗ) thường mọc hoang hoặc được trồng để làm hàng rào. Theo y học cổ truyền, tác dụng dược lý của từng bộ phận như sau:

1. Lá non: Vị ngọt, tính lạnh, có công dụng tán nhiệt độc, lương huyết, cầm máu, sinh cơ; được dùng để chữa các chứng bệnh như sởi, ban chẩn, nhọt độc, chảy máu chân răng...

- Chữa viêm loét cẳng chân kinh niên: Dùng đọt non dứa dại và đậu tương giã nát, đắp vào tổn thương.

- Chữa các vết loét sâu gây thối xương: Dùng đọt non dứa dại giã đắp để hút mủ.

- Thanh tâm giải nhiệt, chữa bồn chồn, tay chân vật vã không yên: Dùng đọt non dứa dại 2 lạng ta, xích tiểu đậu 1 lạng ta, đăng tâm thảo 3 con, búp tre 15 cái sắc uống.

- Chữa đái rắt, đái buốt, đái ra máu: Đọt non dứa dại 15-20 g sắc uống.

2. Hoa: Vị ngọt, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt, lợi thủy, trừ thấp nhiệt, chỉ nhiệt tả, được dùng để chữa các chứng bệnh như sán khí (thoát vị bẹn hoặc thoát vị bìu, đau từ bìu lan lên bụng dưới), lâm trọc (đái buốt, đái đục), tiểu tiện không thông, đối khẩu sang (nhọt mọc ở gáy chỗ ngang với miệng), cảm mạo...

- Chữa ho do cảm mạo: Dùng hoa dứa dại 4-12 g sắc uống.

3. Quả: Có công dụng bổ tỳ vị, cố nguyên khí, chế phục cang dương (khí dương không có khí âm điều hòa, bốc mạnh lên mà sinh bệnh), làm mạnh tinh thần, ích huyết, tiêu đàm, giải ngộ độc rượu, làm nhẹ đầu, sáng mắt, khai tâm, ích trí... Nó được dùng để chữa nhiều chứng bệnh như sán khí, tiểu tiện bất lợi, đái đường, lỵ, trúng nắng, mắt mờ, mắt hoa...

- Chữa lỵ: Dùng quả dứa dại 30-60 g sắc uống.

- Chữa chứng mờ mắt, nhặm mắt: Quả dứa dại ngâm mật ong uống liền trong một tháng.

- Say nắng: Hoa hoặc quả dứa dại sắc uống.

- Đái buốt, đái rắt, đái đục: Quả dứa dại khô 20-30 g thái vụn, hãm uống thay trà trong ngày.

4. Rễ: Vị ngọt, tính mát, có công dụng phát hãn (làm ra mồ hôi), giải nhiệt (hạ sốt), chữa các chứng bệnh như cảm mạo, sốt dịch, viêm gan, viêm thận, viêm đường tiết niệu, phù thũng, đau mắt đỏ, thương tổn do chấn thương.

- Chữa phù thũng, cổ trướng: Rễ dứa dại 30-40 g phối hợp với rễ cỏ xước 20-30 g, cỏ lưỡi mèo 20-30 g sắc uống.

- Chữa chấn thương: Rễ dứa dại tươi không kể liều lượng, giã nát đắp...

ThS Hoàng Khánh Toàn, Sức Khỏe & Đời Sống