Thứ Năm, 15 tháng 11, 2012

Quả dứa dại

Đặt mua QUẢ DỨA DẠI  tại cửa hàng UDK, 127 Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội. 
ĐT 0948820860, email: huyentt.lk@gmail.com
Skype, yahoo: tthuyen712
Giá: 75,000đ/kg   

Dứa dại (còn gọi là dứa gai, dứa gỗ) thường mọc hoang hoặc được trồng để làm hàng rào. Theo y học cổ truyền, tác dụng dược lý của từng bộ phận như sau:

1. Lá non: Vị ngọt, tính lạnh, có công dụng tán nhiệt độc, lương huyết, cầm máu, sinh cơ; được dùng để chữa các chứng bệnh như sởi, ban chẩn, nhọt độc, chảy máu chân răng...

- Chữa viêm loét cẳng chân kinh niên: Dùng đọt non dứa dại và đậu tương giã nát, đắp vào tổn thương.

- Chữa các vết loét sâu gây thối xương: Dùng đọt non dứa dại giã đắp để hút mủ.

- Thanh tâm giải nhiệt, chữa bồn chồn, tay chân vật vã không yên: Dùng đọt non dứa dại 2 lạng ta, xích tiểu đậu 1 lạng ta, đăng tâm thảo 3 con, búp tre 15 cái sắc uống.

- Chữa đái rắt, đái buốt, đái ra máu: Đọt non dứa dại 15-20 g sắc uống.

2. Hoa: Vị ngọt, tính lạnh, có công dụng thanh nhiệt, lợi thủy, trừ thấp nhiệt, chỉ nhiệt tả, được dùng để chữa các chứng bệnh như sán khí (thoát vị bẹn hoặc thoát vị bìu, đau từ bìu lan lên bụng dưới), lâm trọc (đái buốt, đái đục), tiểu tiện không thông, đối khẩu sang (nhọt mọc ở gáy chỗ ngang với miệng), cảm mạo...

- Chữa ho do cảm mạo: Dùng hoa dứa dại 4-12 g sắc uống.

3. Quả: Có công dụng bổ tỳ vị, cố nguyên khí, chế phục cang dương (khí dương không có khí âm điều hòa, bốc mạnh lên mà sinh bệnh), làm mạnh tinh thần, ích huyết, tiêu đàm, giải ngộ độc rượu, làm nhẹ đầu, sáng mắt, khai tâm, ích trí... Nó được dùng để chữa nhiều chứng bệnh như sán khí, tiểu tiện bất lợi, đái đường, lỵ, trúng nắng, mắt mờ, mắt hoa...

- Chữa lỵ: Dùng quả dứa dại 30-60 g sắc uống.

- Chữa chứng mờ mắt, nhặm mắt: Quả dứa dại ngâm mật ong uống liền trong một tháng.

- Say nắng: Hoa hoặc quả dứa dại sắc uống.

- Đái buốt, đái rắt, đái đục: Quả dứa dại khô 20-30 g thái vụn, hãm uống thay trà trong ngày.

4. Rễ: Vị ngọt, tính mát, có công dụng phát hãn (làm ra mồ hôi), giải nhiệt (hạ sốt), chữa các chứng bệnh như cảm mạo, sốt dịch, viêm gan, viêm thận, viêm đường tiết niệu, phù thũng, đau mắt đỏ, thương tổn do chấn thương.

- Chữa phù thũng, cổ trướng: Rễ dứa dại 30-40 g phối hợp với rễ cỏ xước 20-30 g, cỏ lưỡi mèo 20-30 g sắc uống.

- Chữa chấn thương: Rễ dứa dại tươi không kể liều lượng, giã nát đắp...

ThS Hoàng Khánh Toàn, Sức Khỏe & Đời Sống

Trà Cung Đình Huế

UDK - Đại lý trà cung đình Huế tại Hà Nội
Đặt mua TRÀ CUNG ĐÌNH  tại cửa hàng UDK, 127 Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội. 
ĐT 0948820860, email: huyentt.lk@gmail.com
Skype, yahoo: tthuyen712
Giá: Bằng giá bán tại Huế.    



Trong thành phần của Trà Cung Đình Huế bao gồm rất nhiều loại thảo dược, ví như: Atisô, Cúc hoa, Cỏ ngọt, Hoài sơn, Đẳng sâm, Đại táo, Hồng táo, Hồi hoa, Cam thảo Bắc, Hoa lài, Hoa hòe, Thảo quyết minh, Khổ qua, Kỷ tử, Vối nụ, Tim sen. Mỗi vi thảo dược có một chức năng một công dụng riêng, tác dụng đến từng bộ phận của cơ thể. Khi tinh chế lại với nhau theo một bí quyết gia truyền sẽ tạo ra một sản phẩm độc nhất vô nhị về công dụng, bao gồm:
* Hỗ trợ điều trị chứng cao huyết áp, đau đầu, tim hồi hộp, mất ngủ.
* Giúp tăng cường sức đề kháng, giảm cholestorol.
* Bổ khi huyết, thanh nhiệt, giảm độc, mát gan, đẹp da, hết mụn.
Ngoài ra, sản phẩm này còn tốt cho những người mắt yếu, tiểu đường, sỏi thận. Đặc biệt rất thích hợp với phụ nữ.
Trà Cung Đình - Bảo vệ long thể của bạn
Trà Cung Đình là một dược thảo quý hiếm được tinh chế bởi 16 vị thảo dược Cung Đình. Đây là sản phẩm gia truyền chỉ có tại Cơ sở sản xuất Trà Cung Đình Đức Phượng với công dụng vượt trội và khi đưa ra thị trường đã được hàng triệu người trong nước cũng như nước ngoài sử dụng, với một bí quyết riêng đã tạo nên một thương hiệu Nhất Dạ Đế Vương về Trà.
Uống thường xuyên sản phẩm Trà Cung Đình sẽ ngăn ngừa và hổ trợ điều trị được nhiều loại bệnh giúp chúng ta sống vui sống khỏe, sống trường thọ, hạnh phúc với gia đình, bà con, bạn bè và con cháu.
Theo các bác sỹ thì các chứng bệnh huyết áp cao, tiểu đường, đau đầu, mất ngủ, tim hồi hộp là những sát thủ thầm lặng tàn phá cơ thể con người, làm cho chất lượng cuộc sống của chúng ta bị suy giảm rõ rệt. Chính vì vậy sản phẩm Trà Cung Đình sẽ là khắc tinh của những căn bệnh trên và sẽ đồng hành cùng với bạn trên mỗi chặng đường của cuộc sống, giúp bạn đẩy lùi những hiểm họa do những căn bệnh trên gây nên. Và khi bạn có sức khỏe thì hạnh phúc và thịnh vượng sẽ đến với bạn:
  

Loại G8 - Siêu ngon TLT: 250g - Giá: 35,000VND, 500g - Giá 70,000vnd


Loại G9 - Siêu xịn TLT: 250g - Giá: 40,000VND  500g - Giá 70,000vnđ

Trà Cung Đình Huế -  Túi lọc Nhất Dạ Đế Vương
KLT: 2.5g x 25gói - Giá: 50,000VND
 Trà Cung Đình hộp - Siêu cấp TLT: 250g 
Giá: 50,000VND



  Trà Cung Đình hộp - Siêu cấp TLT: 500g
Giá: 100,000VND

Hà Thủ Ô

Đặt mua HÀ THỦ Ô  tại cửa hàng UDK, 127 Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội. 


ĐT 0948820860, email: huyentt.lk@gmail.com
Skype, yahoo: tthuyen712
Giá: 200,000đ/kg   



Hà thủ ô đỏ ha-thu-o-doTên khoa học:
Radix Fallopiae multiflorae
Nguồn gốc:
Rễ đã phơi hay sấy khô của cây Hà thủ ô đỏ, còn gọi là Dạ giao đằng (Fallopia multiflora (Thunb.) Haraldson = Polygonum multiflorum L.), họ Rau răm (Polygonaceae).
Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều vùng đồi núi nước ta.
Thành phần hoá học chính:
Anthranoid, tanin, lecithin.
Công dụng:
Bổ máu, trị thần kinh suy nhược, ngủ kém, sốt rét kinh niên, thiếu máu, đau lưng, mỏi gối, di mộng tinh, bạch đới, đại tiểu tiện ra máu, sớm bạc tóc, mẩn ngứa.
Cách dùng, liều lượng:
Ngày dùng 12-20g dạng thuốc sắc, thuốc bột, rượu bổ. Trước khi dùng phải chế biến, phụ liệu chính là đậu đen.
Ghi chú:
Hà thủ ô trắng là rễ củ của Dây sữa bò (Streptocaulon juventas Merr.), họ Thiên lý (Asclepiadaceae). Cây mọc hoang khắp nơi trong nước ta. Các lương y dùng Hà thủ ô trắng làm thuốc bổ máu, bổ can thận.

Cách Bào chế:
Theo Trung Y: Lấy Hà thủ ô đã cắt miếng cho vào  chậu, đổ rượu ngon vào   tẩm một đêm, cứ  10kg Hà thủ ô thì dùng 2,5kg rượu. Ngày hôm sau bỏ vào  chõ đồ 4 giờ. Lấy ra phơi râm cho khô. Lại tẩm lại đồ hai lần nữa là  được. Miếng Hà thủ ô sẽ thành sắc đen nâu.
Theo kinh nghiệm VN:
. Rửa sạch, ngâm nước vo gạo 1 ngày đêm. Rửa lại đổ nước đậu đen vào  cho ngập (1kg Hà  thủ ô, 100g đậu nấu với hai lít nước cho nhừ nát). Nấu cho đến khi gần cạn (nên đảo luôn cho  được chín đều), củ trở nên mềm, lấy ra bỏ lõi (nếu có), thái hoặc bào mỏng rồi phơi khô, nếu còn nước đậu đen thì tẩm phơi cho đến hết (cách này  thường dùng).
. Muốn cho kỹ nữa thì trước khi thái miếng làm cửu chưng cửu sái.
. Khi đun nấu, đặt một cái vỉ ở đáy dụng cu để khỏi cháy khét.
. Hà thủ ô đỏ ( có thể thêm Hà thủ ô trắng Tylophorajuventas Woodson, Họ Thiên lý). Mỗi thứ đều nhau, ngâm nước vo gạo 4 ngày đêm, ngày thay nước gạo một lần. Cạo bỏ vỏ Hà thủ ô, lấy đậu đen đãi sạch rồi cho dược liệu vào  chõ, cứ 1 lượt hà thủ ô 1 lượt đậu đen, đồ cho chín nhừ đậu đen; bỏ đậu đen lấy hà thủ ô phơi khô, rồi lại đồ; làm như vậy (phơi, đồ) 9 lần. Cuối  cùng lấy hà thủ ô thái hay bào phiến hay sấy khô và tán bột.
. Rượu Hà thủ ô: sau khi bào chế rồi, tán bột, bỏ vào  trong túi vải, ngâm rượu 40o trong 10 ngày với tỷ lệ 1/4. Lọc pha thêm si rô đơn càng tốt (nửa rượu Hà thủ ô với 1 si rô). Ngày uống 2 lần, mỗi lần 30 - 60ml trước bữa ăn.
Bảo quản: để nơi khô ráo, năng đem phơi vì dễ bị mọt.

Hoa Hòe

Đặt mua HOA HÒE tại cửa hàng UDK, 127 Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội. 
ĐT 0948820860, email: huyentt.lk@gmail.com
Skype, yahoo: tthuyen712
Giá: 280,000đ/kg   

Hoa hòe - vị thuốc dân gian nhiều công năng

Hoa hòe còn gọi là hoa mễ, hòe hoa. Hoa hòe có tên khoa học Sophora japonica L, thuộc họ Cánh bướm Fabaceae (Papilionaceae). Trong dân gian thường dùng hoe hòe (Plos Sopharae japonicae) đã nở rồi phơi hay sấy khô của cây hòe. Nhiều khi người ta dùng cả quả hòe hay hòe giác (Fructus Sophorae japonicae).

http://a8.vietbao.vn/images/vn888/hot/v2011/20120427-105254-1-hoa-heo-kho.jpeg

Cây hoa hòe cao khoảng 5-6m. Lá kép lông chim lẻ, mọc so le, mỗi lá có từ 7 đến 17 lá chét. Hoa mọc thành bông, cánh bướm mầu vàng trắng. Quả là một giáp dài hoặc hơi cong, giữa các hạt quả hơi thắt lại. Mùa hoa vào các tháng 7, 8, 9. Cây thường mọc hoang và được trồng khắp nơi ở nước ta và thường dùng để uống cho "mát". Hằng năm ở nước ta hoa hòe được thu mua với số lượng lớn. Gần đây hoa hòe được xuất khẩu nên được nhiều nơi trồng. Cây trồng bằng nhiều hạt hoặc đâm cành. Cây sống lâu, càng những năm sau thu hoạch càng cao. Hoa phải hái lúc còn nụ mới chứa nhiều hoạt chất, phơi hay sấy khô dùng làm thuốc.

Trong hoa hòe có Rutin, một loại vitamin P, có tác dụng tăng cường sức chịu đựng của mao mạch. Thiếu vitamin này tính chất chịu đựng của mao mạch có thể bị giảm, mao mạch dễ bị đứt vỡ. Theo tài liệu cổ: Hoa hòe có vị đắng tính bình, quả đắng tính hàn. Hoa vào hai kinh can và đại tràng. Quả vào kinh can, có tác dụng lương huyết, thanh nhiệt, chỉ huyết (hoa). Quả tính chất gần như hoa nhưng có thể gây ra thai. Theo Nhật hoa tử bản thảo thì hoa hòe trị "năm loại trĩ, tâm thống, mắt đỏ, trừ sán lãi, nhiệt trong bụng, trị phong ở da, trị phong ngoài da, trường phong tả huyết, xích bạch lĩ". Còn Bản thảo cương mục cho rằng "Hoa hòe sao thơm nhai nhiều trị mất giọng và hầu tý (đau họng), trị được nục huyết, thổ huyết, băng trưng lậu hạ".
Một số bài thuốc dùng hoa hòe:
Trị vảy nến: Hoa hòe sao vàng tán bột mịn, luyện mật làm hoàn mỗi lần uống 3g, ngày hai lần, dùng nước sôi để nguội uống sau bữa cơm.
Chữa viêm loét: Hoa hòe 15g, Kim ngân hoa 15g, sắc với 2 bát rượu uống cho ra mồ hôi. Với tổn thương viêm loét về mùa hè có thể dùng hoa hòe 60g sắc đặc rồi dùng bông thấm dịch thuốc bôi lên nơi bị nhiều lần trong ngày.
Trị mụn nhọt mùa hè: Dùng hoa hòe khô 30 - 60g cho nước 1.500ml sắc lấy nước, lấy bông thấm nước rửa tại chỗ, nước có thể hâm nóng mỗi ngày rửa hai, ba lần, bã thuốc đắp vào chỗ đau.
Chữa tăng huyết áp: Hoa hòe 25g, Tang ký sinh 25g, Hạ khô thảo 20g, Cúc hoa 20g, Thảo quyết minh 20g, Xuyên khung 15g, Địa long 15g, sắc uống ngày một thang, ngày uống ba lần. Nếu mất ngủ gia thêm toan táo nhân sao 15g, dạ giao đằng 25g; đau ngực gia đan sâm 20g, qua lâu nhân 25g; có cơn đau thắt ngực gia huyền hồ sách 12g, phật thủ 20g, bột tam thất 7,5g.
Đại tiện ra máu: Hoa hòe, Trắc bá diệp, Kinh giới và Chỉ xác, mỗi vị 45g, sấy khô, tán bột, mỗi lần uống 6g với nước cơm. Hoặc: Hoa hòe 60g, Địa du 45g, Thương truật 45g, Cam thảo 30g, sao thơm sấy khô, tán bột uống mỗi ngày hai lần, mỗi lần 6g.
Chữa băng huyết, khí hư : Hoa hòe lâu năm 30g, Bách thảo sương 15g, tán bột, uống mỗi lần 9-12g với rượu ấm để chữa băng huyết; hoa hòe sao, mẫu lệ nung, mỗi vị 30g, tán bột, uống mỗi lần 9g với rượu ấm để chữa bạch đới (khí hư mầu trắng).
Trị bệnh trĩ: Hoa hòe 12g, Trắc bá than 12g, Kinh giới 8g, Chỉ xác 12g tán bột mịn uống với nước sôi nguội hoặc làm thang uống.
Chữa khó ngủ: Hòe hoa, hạt muỗng mỗi vị 40g, sấy khô, tán bột, mỗi lần uống 5g, ngày dùng 8g, uống làm hai lần.
THÁI KIỀU NGÂN

Y Dĩ

Đặt mua Y DĨ tại cửa hàng UDK, 127 Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội. 
ĐT 0948820860, email: huyentt.lk@gmail.com
Skype, yahoo: tthuyen712
Giá: 50,000 đ/kg    
Mô Tả: Cây thảo, sống hàng năm, cao chừng 1 - 1,5m. Thân nhẵn bóng, có vạch dọc. Lá dài hẹp, đầu nhọn như lá mía, dài khoảng 10 –4 0cm, rộng 1,4 - 3cm, có gân song song nổi rõ, gân giữa to. Hoa đơn tính cùng gốc, mọc ở kẽ lá thành bông, hoa đực mọc phía trên, hoa cái phía dưới, ba nhị. Quả đĩnh bao bọc bởi bẹ của 1 lá bắc. Mọc hoang ở nơi ẩm mát, ven suối. Một số tỉnh đã trồng như Nghệ Tĩnh, Thanh Hóa, Lai Châu. Thu hái: Hoảng tháng 8 – 10 khi quả gìa. Cắt cả cây, phơi khô, đập cho rụng hạt, bỏ vỏ cứng và màng ngoài, chỉ lấy nhân.
Ý Dĩ (Semen Coicis) 
Dược liệu trung quốc
Tên thuốc: Ý dĩ
Tên gọi khác: Giải lễ (Bản Kinh), Dĩ thực, Dĩ mễ, Mễ châu (Biệt Lục), Ý mễ nhân, Ý châu tử (Bản Thảo Đồ Kinh), Thảo ngư mục, Ngọc mễ, Khởi mục, Châu tử nhan, Bồ lô Ốc viêm, Hữu ất mai, Ý thử, Cảm mễ (Hòa Hán Dược Khảo), Hồi hồi mễ, Tây phiên thuật, Thảo châu chi (Cứu Hoang Bản Thảo), Cống mễ (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).
Tên khoa học: Coix lachryma jobi L.-Họ khoa học: Họ Lúa (Poaceae).
Thu hái:
Hoảng tháng 8 – 10 khi quả gìa. Cắt cả cây, phơi khô, đập cho rụng hạt, bỏ vỏ cứng và màng ngoài, chỉ lấy nhân.
Phần dùng làm thuốc:  Nhân khô (Semen Ciocis). Loại hạt to, béo, mầu trắng là tốt.
Mô tả dược liệu:
Hình cầu bầu dục hoặc cầu tròn, phía đáy tương đối rộng, hơi bằng, phía đỉnh tròn đầy, dài 0,5 – 0,65cm, rộng 0,3 – 0,5cm. Mặt ngoài mầu trắng hoặc trắng vàng, mặt sau có một đường rãnh dọc sâu, rộng lòng, rãnh sù sì, mầu nâu, phần cuống lõm vào,  trong đó có một nốt nhỏ mầu nâu. Chất cứng, đập vỡ ra có mầu trắng, có bột. Không mùi, vị ngọt (Dược Tài Học).
Bào chế dược liệu:
Dùng sống hoặc sao với cám (cứ 50kg Ý dĩ dùng 5kg cám), sao cho hơi vàng, bỏ cám đi, để nguội dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Bảo quản dược liệu:
Để nơi thoáng gió, khô ráo, dễ mọt.
Thành phần hóa học:
+ Coixol, Coixenolide, Vitamin B1, Leucine, Lysine, Arginine (Trung Dược Học).
+ Coixenolide, Đản bạch 13-14%, Chất béo 2-8%, Linoleic acid 25-28%, Palmitic acid 27-28%, Stearic acid, Cis-8-Octadecenoic (Loeman Kil và cộng sự, C A 1978, 89: 3147b).
+ a-Monoolein (Tokuda H và cộng sự, Planta Med, 1990, 56 (6): 653).
+ Cis-,Transferuloylstigmastenol, Cis-, Erans-Feruloylcampes tenol (Kondoa Y và cộng sự, Chem Pharm Bull 1988, 36 (8): 3147).
+ Coixan A, B, C (Takashi M và cộng sự, Planta Med 1986, 52 (1): 64).
Tác dụng dược lý:
+ Tác dụng đối với hệ hô hấp: Dầu trích từ Ý dĩ nhân với liều tương ứng có tác dụng lên hệ hô hấp. Liều thấp thuốc gây kích thích hô hấp, liều cao thuốc ức chế hô hấp. Thuốc cũng có tác dụng làm gĩan phế quản (Trung Dược Học).
+ Tác dụng trên tế bào khối u: Có một số báo cáo cho rằng Ý dĩ nhân có tác dụng ức chế sự phát triển của tế bào ung thư (Trung Dược Học).
+ Tác dụng trên cơ vân: Từ những năm 1920, thực nghiệm cho thấy dầu trích Ý dĩ  chích cho ếch thấy có tác dụng làm cho cơ vân giảm và ngưng co bóp. Tác dụng này liên hệ với cơ trơn nhưng không ảnh hưởng đến thần kinh. Chất Coixol có tác dụng thư gĩan đối với cơ trơn (Trung Dược Học).
Độc tính:
Liều gây độc của Ý dĩ đối với chuột nhắt là 5-10g/kg (chích dưới da) và ở thỏ là 1-1,5g/kg [chích tĩnh mạch] (Trung Dược Học).
Tính vị:
+ Vị ngọt, tính hơi hàn (Bản Kinh).
+ Không độc (Biệt Lục).
+ Tính bình (Thực Liệu Bản Thảo).
+ Vị ngọt, nhạt, tính hơi hàn (Bản Thảo Kinh Tập Sơ).
Quy kinh:
. Vào kinh Phế, Đại trường, Tỳ, Vị, Can (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).
. Vào kinh túc dương minh Vị, thủ thái âm Phế (Bản Thảo Hối Ngôn).
. Vào kinh Tỳ, Thận, Phế (Bản Thảo Cương Mục).
Tác dụng, chủ trị:
+ Chủ gân co rút cấp, không duỗi ra được, phong thấp tý, hạ khí, uống lâu làm cơ thể nhẹ nhang, ích khí (Bản Kinh).
+ Trừ tà khí bất nhân ở gân xương, lợi trường vị, tiêu thủy thủng, người thường nên ăn (Biệt Lục).
+ Năng trị nhiệt phong, gân mạch co rút cấp. Chủ phế nuy, phế khí, nôn ra mủ máu, ho, đờm nghịch lên, phá ngũ tạng kết độc (Dược Tính Luận).
Kiêng kỵ:
+ Có thai không dùng (Phẩm Hối Tinh Yếu).
+ Người táo bón, hơi thở ngắn, hàn nhập vào gân, Tỳ hư không có thấp: không dùng (Bản Thảo Kinh Sơ).
+ Thận thủy bất túc,Tỳ âm bất túc, khí hư hạ hãm, có thai: cấm dùng (Đắc Phối Bản Thảo).
- Tân dịch khô, táo bón, có thai: kiêng dùng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
Liều dùng: 12 – 80g.
Lợi thấp: Dùng sống. Kiện Tỳ: sao lên.
Đơn thuốc kinh nghiệm:
+ Trị cơ thể đau nhức do phong thấp, cứ đến quá trưa về chiều thì bệnh lại tăng hơn: Ma hoàng 120g, Hạnh nhân 30 hột, Cam thảo 40g, Ý dĩ 40g. sắc với 4 chén nước còn 1,5 chén, gạn lấy nước để riêng. Cho thêm 3 chén nước nữa sắc còn 1 chén. Hợp chung 2 chén thuốc lại sắc còn 1 chén. Chia làm 3 lần uống (Ma Hoàng Hạnh Nhân Ý Dĩ Thang – Kim Quỹ Yếu Lược).
+ Trị trường ung chưa vỡ mủ: Ý dĩ 40g, Phụ tử 8g, Bại tương 40g, sắc uống (Ý Dĩ Phụ Tử Bại Tương Tán – Kim Quỹ Yếu Lược).
+ Trị trường ung chưa vỡ mủ: Ý dĩ 40g, Bại tương 24g, Sinh địa 60g, Thược dược 48g, Đan sâm 48g, Mẫu đơn bì 24g, Cát cánh 40g, Mạch môn 40g, Cam thảo 24g, Phục linh 24g, Sinh khương 24g, sắc uống (Ý Dĩ Bại Tương Thang – Thiên Kim phương).
+ Trị tự nhiên họng sưng đau, làm như có nhọt sưng: ý dĩ nhai nuốt là khỏi (Ngoại Đài Bí Yếu).
+ Trị nóng nẩy, giận dữ, tiểu buốt: Ý dĩ mễ 20g, sắc với 2 chén nước còn 1 chén. Thêm Cam thảo 16g hoặc Nho khô 40g, nấu sôi, bỏ bã, uống (Y Học Nhập Môn).
+ Trị ngực đau bên này chạy sang bên kia: Ý dĩ, Ngũ gia bì, Ngưu tất, Thạch hộc, Sinh địa, Cam thảo, sắc uống (Phổ Tế phương).
+ Trị phế nuy phát quyết: Ý dĩ nhân, Mộc qua, Thạch hộc, Tỳ giải, Hoàng bá, Sinh địa, Mạch môn. Tùy liều lượng mà phân ra quân thần tá sứ. Cân tất cả khoảng 120-160g, tán bột, uống với nước sôi hoặc nấu kỹ 3 lần, lấy khoảng 2,5 chén, chia làm 3 lần uống (Phổ Tế phương).
+ Trị lãnh khí: Ý dĩ, gĩa cho thật sạch, nấu như cơm ăn thường ngày (Phổ Tế phương).
+ Trị thủy thủng, suyễn: Úc lý nhân 80g, gĩa nát, lọc lấy nước cốt. Dùng nước đó nấu với Ý dĩ thành cơm, ăn ngày 2 lần (Độc Hành phương).
+ Trị phế nuy, ho khạc ra mủ, máu: Ý dĩ nhân 400g, gĩa cho vỡ ra, lấy nước nấu cạn 3 phân còn 1 phân, thêm ít rượu, uống. Uống nhiều mới có công hiệu (Mai Sư phương).
+ Trị phế nuy, thường khạc ra máu: Ý dĩ nhân 3 chén, gĩa nát, sắc với 5 chén nước còn 2 chén, thêm ít rượu ngon, chia làm 2 lần uống (Tế Sinh phương).
+ Trị phong thũng ở tỳ, miệng môi sưng phù:  Chích thảo, Phòng kỷ, Xích tiểu đậu (sao),
Ý dĩ nhân (sao). Lượng bằng nhau. Mỗi lần dùng 16g, thêm gừng 3 lát, sắc uống ấm (Ý Dĩ Nhân Thang – Tế Sinh phương).
+ Trị đờm thấp, ho:  Cam thảo 80g, Cát cánh 40g, Ý dĩ nhân 120g. Tán bột. Mỗi lần dùng 20g, thêm ít gạo nếp, nấu uống sau bữa ăn (Ý Dĩ Nhân Thang – Nho Môn Sự Thân).
+ Trị răng đau, răng sâu: Ý dĩ nhân, Cát cánh, nghiền nát thành bột nhuyễn, nhét vào chỗ răng đau (Vĩnh Loại Kiềm phương).
+ Trị trường ung (ung nhọt ở ruột):  Bại tương 2g, Phụ tử             0,8g, Ý dĩ nhân 4g. Tán bột. Dùng 4g, sắc nước uống hết 1 lần (Ý Dĩ Phụ Tử Tán – Chứng Trị Chuẩn Thằng).
+ Trị trẻ nhỏ can khí quá yếu, gân cơ mỏi yếu, tay chân không có sức: Đương quy, Khương hoạt, Phòng phong, Tần cửu,  Toan táo nhân, Ý dĩ nhân. Lượng bằng nhau. Tán bột, làm hoàn. Ngày uống 4-6g (Ý Dĩ Hoàn – Thẩm Thị Tôn Sinh Thư).
+ Trị lạc huyết (nôn ra máu...): Phổi heo (nấu chín), Ý dĩ nhân. Nấu ăn lúc đói (Ý Dĩ Nhân Tán – Thẩm Thị Tôn Sinh Thư). 
+ Trị trẻ nhỏ tay mềm:  Đương quy 40g, Khương hoạt 40g, Phòng phong 40g, Toan táo 40g, Ý dĩ nhân 40g. Tán nhỏ, làm hoàn. Ngày uống 4g (Ý Dĩ Hoàn – Ấu Ấu Tu Tri).
+ Trị trẻ nhỏ đầu bị lở loét, các chứng ghẻ lở do thai bị nhiễm độc:  Đại hoàng            15g, Thổ phục linh 60g, Ý dĩ nhân 30g. Tán bột. Trộn mật làm hoàn, to bằng viên đạn lớn. Ngày uống 1 viên (Ý Dĩ Nhân Viên – Nhật Bản Hán Y Danh Phương Tuyển).
+ Trị phù thũng do kém dinh dưỡng: Ý dĩ 80g, tán bột, nấu với Gạo thành cháo ăn (Ý Dĩ Nhân Chúc - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị thấp trệ, phù thũng, tiểu ít: Ý dĩ, Đông qua bì, Xích tiểu đậu đều 40g, nấu cháo ăn (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị thấp uất ở kinh mạch, người nóng đau, mồ hôi nhiều, tiểu không thông: Ý dĩ 20g, Trúc diệp 12g, Hoạt thạch 16g, Thông thảo 8g, Phục linh 12g, Liên kiều 12g, Bạch khấu nhân 4g, sắc uống (Ý Dĩ Trúc Diệp Tán – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
+ Trị phế ung, ho ra đờm mủ tanh hôi: Ý dĩ 80g, Lô căn 40g, Đông qua nhân 24g, Đào nhân 8g, sắc uống (Thiên Kim Vi Hành Thang).
+ Trị Tỳ hư, thấp trệ, tiêu chảy: Ý dĩ 40g, Xa tiền tử 20g, sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

Kim Tiền Thảo

Đặt muaKIM TIỀN THẢO tại cửa hàng UDK, 127 Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội. 
ĐT 0948820860, email: huyentt.lk@gmail.com
Skype, yahoo: tthuyen712
Giá: 80,000 đ/kg 

Kim tiền thảo có rất nhiều tên gọi khác nhau như: Mắt trâu, vảy rồng, mắt rồng, đồng tiền lông. Là một loại cây cỏ mọc hoang ở các vùng rừng núi và được trồng bằng hạt làm thuốc. Thu hái chủ yếu vào mùa hè thu, dùng tươi, phơi hoặc sao khô. Các nghiên cứu dược lý hiện đại cho thấy kim tiền thảo có tác dụng lợi tiểu, lợi mật, kháng sinh, kháng viêm, dãn mạch, hạ huyết áp. Nhưng công dụng chủ yếu của Kim tiền thảo là lợi mật, thông tiểu tiện, thường dùng chữa sỏi thận, sỏi mật, sỏi bàng quang, …
Tác dụng chữa bệnh của kim tiền thảo?
Kim Tiền Thảo
 Với sỏi túi mật Thành phần chính cấu tạo sỏi túi mật là Cholesterol. Cholesterol muốn hòa tan trong dịch mật phải nhờ có một lượng chất lecithin và acid mật nhất định. Khi nồng độ cholesterol tăng mà nồng độ lecithin và acid mật thấp không đủ để hòa tan cholesterol thì cholesterol sẽ kết tụ lại tạo nên sỏi. Đối với gan mật, kim tiền thảo có tác dụng tăng cường sự phân tiết dịch mật. Cho nên chỉ với liều lượng từ 15 – 30g, sắc uống hàng ngày sẽ có tác dụng điều tiết nồng độ cholesterol và nồng độ lecithin, acid, tránh xảy ra hiện tượng chênh lệch nồng độ giữa các thành phần kể trên, từ đó tránh được hiện tượng kết tụ sỏi trong túi mật. Với sỏi đường tiết niệu Sỏi đường tiết niệu là một bệnh thường gặp trong cộng đồng, bệnh có thể là cấp tính, mạn tính. Sỏi đường tiết niệu có một hay nhiều triệu chứng như: Đau, tức, nặng vùng thắt lưng, cơn đau quặn thận, đái ra máu, đái buốt, đái rắt và nếu để lâu có các biểu hiện ứ nước, ứ mủ ở thận, hay suy thận cấp hay mạn tính. Kim tiền thảo khi kết hợp với một số vị thuốc khác có nhiều tác dụng ưu việt như:

Kim tiền thảo kết hợp với hạt mã đề, thạch vĩ, hải kim sa, ngưu tất, hậu phác…có tá dụng thúc đẩy sự bài xuất sỏi ra khỏi cơ thể qua đường tiểu tiện. Không gây đau đớn như phẫu thuật lại có tác dụng phòng ngừa bệnh tái phát.
 Kim tiền thảo kết hợp với sinh địa, mộc thông, cam thảo cháy…có tác dụng chữa sỏi kèm theo bội nhiễm đường tiết niệu.
 Kim tiền thảo kết hợp với mã đề, ý dĩ, ngưu tất, uất kim, chỉ xác, đại phúc bì, kê nội kim…có tác dụng chữa sỏi đường tiết niệu gây sung huyết, chảy máu.
Kim tiền thảo kết hợp với ngải cứu, kê nội kim có tác dụng chữa sỏi đường tiết niệu không có cơn đau, không tiểu tiện ra máu, không tiểu buốt, tiểu dắt.
Với trường hợp sau phẫu thuật, có thể tiếp tục dùng kim tiền thảo sắc uống để phòng ngừa sỏi niệu tái phát.

Trinh Nữ Hoàng Cung

Đặt muaKIM TRINH NỮ HOÀNG CUNG  tại cửa hàng UDK, 127 Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội. 

ĐT 094 8820 860, email: huyentt.lk@gmail.com
Skype, yahoo: tthuyen712
Giá:  200,000đ/kg 

Trinh nữ hoàng cung trên báo Mỹ: Kỳ diệu thảo dược Việt Nam
Cập nhật: 25/08/2012
Ngày 26/6/2012, nhật báo San Jose Mercury News (Mỹ) đã có bài viết mang tựa đề “Bí mật về của các loại thảo dược” với những đánh giá tích cực về công dụng của thảo dược Việt Nam, trong đó nhấn mạnh tới sự “kỳ diệu” của bài thuốc thảo dược chữa bệnh u bướu được bào chế từ cây Trinh nữ Hoàng cung Việt Nam.

Khai phá từ… Trinh nữ hoàng cung
Đây là lần đầu tiên một loại thảo dược Việt Nam được báo Mỹ ca ngợi như là loại thảo dược quý, được đánh giá là “chìa khóa vàng cho nền y học đang ngày càng đắt đỏ và có thể thay thế những loại thuốc có quá nhiều tác dụng phụ”.  Phát biểu trên tờ San Jose Mercury News, Giáo sư Djaja Djendoel Soejarto - trường Cao đẳng Dược thuộc Đại học Illinois tại Chicago cho rằng: “Nhiều nhà khoa học Mỹ đang tìm đến quốc gia Đông Nam Á vốn được biết tới như là một điểm nóng sinh học với 12.000 loài thực vật này. Nhiều nhà đầu tư, trong đó có một số đến từ Thung lũng Silicon đang tính tới kế hoạch hỗ trợ cho các sản phẩm như Trinh nữ hoàng cung hay còn gọi là Crila vào thị trường Mỹ”.
Bài viết nổi bật trên nhật báo San Jose Mercury News về thảo mộc Việt Nam
Soejarto là một trong số rất nhiều các nhà khoa học Mỹ đang quan tâm, tìm hiểu nghiên cứu các bài thuốc thảo dược có nguồn gốc dân gian để điều trị bệnh tật. Hiện nay, ông đã cùng với các nhà khoa học Việt Nam đã phát hiện ra những hợp chất hóa học mới mà ông hy vọng một ngày nào đó có thể đem đến những phương thức điều trị mới các bệnh như sốt rét và ung thư. Theo ông, “rất nhiều thảo mộc tại Việt Nam đã được sử dụng để điều trị bệnh tật, có những bài thuốc được một dân tộc sử dụng hàng ngàn năm ắt phải có cái gì đó trong nó”.
Thảo dược Trinh nữ hoàng cung  gắn liền với bài thuốc thảo dược “made in Việt nam”  được các nhà khoa học Mỹ chú ý từ khi thuốc Crila còn trong giai đoạn thử nghiệm lâm sàng. Kết quả tích cực qua các thử nghiệm lâm sàng tại các bệnh viện đầu ngành  trên các bệnh nhân u phì đại lành tính tuyến tiền liệt và và u xơ tử cung đã được nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước đặc biệt chú ý. Vì thế, sau khi kênh truyền hình Healing Quest chuyên về sức khỏe của Mỹ phát sóng tại 145 quốc gia trên thế giới trực tiếp đến Việt Nam xây dựng, phát phóng sự về Tiến sỹ - Dược sỹ Nguyễn Thị Ngọc Trâm và công trình nghiên cứu trinh nữ hoàng cung thì nhiều công ty cùng nhiều nhà khoa học của Thung lũng Silicon đã đến Việt Nam nghiên cứu, tìm hiểu về sản phẩm này.
Cũng theo nhật báo San Jose Mercury News  dẫn nguồn từ bà McKinney, thuộc Khoa luật Đại học Santa Clara thì nhiều năm trước, khi TS Nguyễn Thị Ngọc Trâm phát triển Crila thành sản phẩm thương mại, rất nhiều người Mỹ gốc Việt đã mang loại thảo dược này về những nơi như Thung lũng Silicon. Đến nay, McKinney đã trở thành Giám đốc công ty Crinum Health Ltd (Bắc California) và là đối tác nhập khẩu, phân phối thuốc trinh nữ hoàng cung dạng viên vào thị trường Mỹ. Từ cuối năm 2010 Crila đã xuất hiện tại Mỹ dưới dạng viên nang với 3 loại chính là Crila dành cho bệnh nhân tuyến tiền liệt, u xơ tử cung và phụ nữ thời kỳ mãn kinh.
Theo đánh giá của nhiều bệnh nhân Mỹ gửi tới Crinum Health thì, “Crila giúp làm giảm các vấn đề về tuyến tiền liệt như: tiểu nhiều, tiểu buốt và giúp giảm bớt triệu chứng mãn kinh: bốc hỏa, đổ mồ hôi ban đêm, thay đổi tâm trạng ở phụ nữ”.
Niềm tin các nhà khoa học và bệnh nhân Mỹ
Giáo sư Tori Hudson (trường Cao đẳng Y dược tự nhiên ở Portland, Oregon) đặc biệt quan tâm tới sản phẩm Crila từ cây trinh nữ hoàng cung của Việt Nam. Ông hiện đang nghiên cứu về tác dụng của Crila tới các triệu chứng mãn kinh. Trong khi đó, Michael Scott - một bác sĩ sản phụ khoa ở Atlanta tin rằng: “Crila là một hướng điều trị khác mà các bác sĩ có thể kê đơn cho bệnh nhân mà không gây ra tác dụng phụ tiêu cực vốn thường thấy trong nhiều dược phẩm đắt tiền”.
 
Thu hái lá cây Trinh nữ hoàng cung
Thực tế, nhiều bệnh nhân Mỹ gặp những rắc rối tuyến tiền liệt sau khi sử dụng Crila đã cho những kết quả rất bất ngờ. Ralph Neate, 68 tuổi, cư dân ở Santa Cruz đã quyết định trở thành một nhà đầu tư sau khi uống Crila giúp ông giảm triệu chứng phì đại tuyến tiền liệt. “Nếu trước đây tôi uống một ít trà đá thì chỉ vừa uống xong tôi đã lại phải chạy vào buồng tắm”, Neate nói. Ông cũng đã có một thời gian khó ngủ vì phải đi tiểu nhiều lần liên tục trong đêm. Nhưng giờ đây, Neate cho biết, ông đã ngủ một mạch đến sáng.
Trong khi đó, Ken Malik - Giám đốc điều hành  của  một website chuyên về sức khỏe lại cho biết: "Sau khi liều điều trị hàng ngày (dựa trên đề xuất nhãn về trọng lượng) hơn 2 tháng, tôi nhận thấy số lần tiểu đêm đã giảm đi rất nhiều. Trong nhiều năm trước đây, tôi phải dậy đêm nhiều lần, cứ 2-3 tiếng lại mắc tiểu… Đến nay, sau khi sử dụng Crila, việc ngủ thông qua đêm là khá thường xuyên và khi phải thức để đi tiểu thì chỉ là 1 lần mỗi đêm. Còn bệnh nhân Ernest tới từ Maryland lại chia sẻ: bản thân ông đã sống chung với u phì đại tuyến tiền liệt được 15 năm, mặc dù ông đã dùng nhiều thoại thảo dược từ phấn hoa Ấn Độ cũng như thuốc kê toa để điều trị nhưng chỉ giúp làm giảm được triệu chứng. Khi biết có sản phẩm Crila tại Mỹ, ông đã dùng trong ba tháng và thấy kích thuớc khối u đã giảm…
Người làm rạng danh thảo dược Việt
Sau gần 2 năm có mặt tại thị trường Mỹ, sự kiện trinh nữ hoàng cung nói chung và thuốc thảo dược Crila nói riêng được giới khoa học Mỹ quan tâm, đánh giá tích cực, được nhiều bệnh nhân tin dùng đã đưa thảo dược Việt Nam lên một tầm cao mới. Người đã làm rạng danh thảo dược Việt nam nói chung, Trinh nữ hoàng cung nói riêng đó chính là nhà khoa học, tiến sỹ Nguyễn Thị Ngọc Trâm. Qua 15 năm miệt mài nghiên cứu, bà đã thành công trong việc chiết xuất alcaloid từ lá cây trinh nữ hoàng cung làm nguyên liệu sản xuất viên nang Crila để điều trị phì đại lành tính tuyến tiền liệt ở nam giới và u xơ tử cung ở nữ giới. Bằng hiệu quả thực tế trên nhiều bệnh nhân cả trong và ngoài nước, bà đã đưa Trinh nữ hoàng cung bước ra khỏi những nghi hoặc của bài thuốc dân gian để trở thành 1 loại thảo dược quý hiếm, được chứng minh công dụng tuyệt vời dưới ánh sáng của y học hiện đại.
Phần thưởng xứng đáng cho những nỗ lực nghiên cứu khoa học không biết mệt mỏi để mang lại cho y học dân tộc một bài thuốc quý đó là những giải thưởng danh giá do nhà nước trao tặng như: Giải thưởng Kovalevskaia (2006), giải thưởng nhà nước (2010). Cụm công trình nghiên cứu về cây Trinh nữ hoàng cung Việt Nam của TS.DS Nguyễn Thị Ngọc Trâm cũng được trao tặng là 1 trong 10 công trình y tế tiêu biểu của quốc gia.
Chia sẻ về sự kiện này, TS Trâm cho biết: Mỹ là một trong những nước có những quy chuẩn khắt khe nhất về dược phẩm, để có một chỗ đứng cho loại thuốc thảo dược “thuần Việt” là không hề dễ dàng. Vì thế, bản thân bà đã dành rất nhiều công sức cho việc chuẩn hóa quy trình sản xuất thuốc thảo dược: từ việc xác định loài (qua nghiên cứu gen- ADN), đến thu hái, kiểm soát nguyên liệu (đầu vào), quy trình sản xuất (môi trường, trang thiết bị) đến thành phẩm (độ an toàn, hiệu quả)... Tất cả đều phải đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe nhất để cho ra đời các sản phẩm tốt nhất. 
Đơn cử như việc xây dựng vùng nguyên liệu, để đảm bảo hàm lượng hoạt chất sinh học điều trị bệnh khối u trong lá cây Trinh nữ hoàng cung, vùng trồng cây Trinh nữ hoàng cung thực hiện việc trồng, chăm sóc, thu hái theo tiêu chuẩn GAP-WHO (Good Agricultural Practice). Vùng trồng đã được kiểm tra, nghiên cứu các điều kiện về nhổ nhưỡng, nguồn nước cũng như điều kiện về khí hậu... Khu vực trồng là khu vực đã được dành riêng cho việc canh tác hữu cơ, hoàn toàn không sử dụng thuốc trừ sâu và phân bón hoá học… 
Nhà máy sản xuất thuốc Crila (của công ty TNHH Thiên Dược) cũng đã được Cục quản lý dược Bộ Y tế cấp giấy chứng nhận đạt tiêu chuẩn GMP (Thực hành tốt sản xuất thuốc), GLP (Thực hành tốt phòng kiểm nghiệm thuốc), GSP (Thực hành tốt bảo quản thuốc). Viên Crila được sản xuất từ nguồn nguyên liệu sạch đạt hàm lượng hoạt chất sinh học cao. Do đó, đạt hiệu quả điều trị cao, không có tác dụng phụ nên được thị trường Mỹ và các thị trường khác trên thế giới ưa chuộng.
Tiếp sau việc có mặt tại thị trường Mỹ, tin rằng trong một tương lai không xa, thuốc thảo dược từ cây trinh nữ hoàng cung sẽ không chỉ phục vụ tin dùng rộng rãi người dân trong nước mà còn  đến với bệnh nhân ở  nhiều nước trên thế giới với giá cả hợp lý nhất. Bởi lẽ theo TS Trâm, thuốc có tác dụng với người Việt Nam thì cũng sẽ có tác dụng với cả người Mỹ, vì tuyến tiền liệt ở đâu cũng chỉ là tuyến tiền liệt mà thôi